By
admin on March 15th, 2006
Posted in Bài Học Kinh Doanh | Comments Off
Khái niệm sản phẩm theo quan điểm truyền thống: Sản phẩm là tổng hợp các đặc tính vật lý học, hoá học, sinh học… có thể quan sát được, dùng thoả mãn những nhu cầu cụ thể của sản xuất hoặc đời sống

Khái niệm sản phẩm theo quan điểm của MARKETING:
Sản phẩm là thứ có khả năng thoả mãn nhu cầu mong muốn của khách hàng, cống hiến những lợi ích cho họ và có thể đưa ra chào bán trên thị trường với khả năng thu hút sự chú ý mua sắm và tiêu dùng. Theo đó, một sản phẩm được cấu tạo và hình thành từ hai yếu tố cơ bản sau đây:
-
Yếu tố vật chất.
-
Yếu tố phi vật chất.
Theo quan niệm này, sản phẩm phải vừa là cái “đã có”, vừa là cái “đang và tiếp tục phát sinh” trong trạng thái biến đổi không ngừng của nhu cầu. Ngày nay, người tiêu dùng hiện đại khi mua một sản phẩm không chỉ chú ý đến khía cạnh vật chất, mà còn quan tâm đến nhiều khía cạnh phi vật chất, khía cạnh hữu hình và cả các yếu tố vô hình của sản phẩm.
Sản phẩm mới là gì?
-
Có phải những mẫu mã mới mà các nhà sản xuất ô tô vẫn đưa ra thị trường vào mùa thu được gọi là sản phẩm mới hay không?
-
Nếu một doanh nghiệp chỉ thêm loại kem chống nhăn vào bộ trang điểm dành cho phái nữ, thì đấy có phải là một sản phẩm mới hay không?
-
Hay chỉ những sản phẩm hoàn toàn mới về mặt quan niệm mới được coi là một sản phẩm mới?
Đứng trên góc độ doanh nghiệp để xem xét, người ta chia sản phẩm mới thành hai loại: sản phẩm mới tương đối và sản phẩm mới tuyệt đối. Chiến lược marketing đối với sản phẩm mới tuyệt đối này thường phải được soạn thảo kỹ lưỡng hơn, đòi hỏi những thông tin chi tiết hơn về khách hàng và thị trường.
Sản phẩm mới tương đối
Sản phẩm đầu tiên doanh nghiệp sản xuất và đưa ra thị trường, nhưng không mới đối với doanh nghiệp khác và đối với thị trường. Chúng cho phép doanh nghiệp mở rộng dòng sản phẩm cho những cơ hội kinh doanh mới. Chi phí đề phát triển loại sản phẩm này thường thấp, nhưng khó định vị sản phẩm trên thị trường vì người tiêu dùng vẫn có thể thích sản phẩm của đối thủ cạnh tranh hơn.
Sản phẩm mới tuyệt đối:
Đó là sản phẩm mới đối với cả doanh nghiệp và đối với cả thị trường. Doanh nghiệp giống như “người tiên phong” đi đầu trong việc sản xuất sản phẩm này. Sản phẩm này ra mắt người tiêu dùng lần đầu tiên. Đây là một quá trình tương đối phức tạp và khó khăn (cả trong giai đoạn sản xuất và bán hàng). Chi phí dành cho nghiên cứu, thiết kế, sản xuất thử và thử nghiệm trên thị trường thường rất cao. Vậy liệu một sản phẩm có được coi là mới hay không phụ thuộc vào cách thị trường mục tiêu nhận thức về nó. Nếu người mua cho rằng một sản phẩm khác đáng kể so với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh về một số tính chất (hình thức bên ngoài hay chất lượng), thì cái sản phẩm đó sẽ được coi là một sản phẩm mới.
Sản phẩm và dịch vụ trong MARKETING MIX
-
Hãy sử dụng chính sản phẩm và dịch vụ như là một nguồn của marketing. Nắm được một cái gì đó là duy nhất sẽ đem lại một động cơ khác đằng sau việc quảng cáo. Ngoài ý tưởng trên, một sự lựa chọn khác là thay đổi và điều chỉnh sản phẩm và dịch vụ đó.
-
Cần chú ý đến những yếu tố thay đổi khác như màu sắc, kích cỡ, kiểu dáng của một sản phẩm vì nhiều khi chỉ cần điều chỉnh dịch vụ đó cũng có thể gây được sự chú ý rồi. Nên nhớ rằng các cơ hội bán hàng và khuyến mại đều có thể phát sinh từ sự quá trình cá biệt hoá sản phẩm.
Tại sao cần phải nghiên cứu sản phẩm mới?
Một thực tế khách quan hiện nay các doanh nghiệp đang phải đương đầu với điều kiện kinh doanh ngày càng trở nên khắt khe hơn:
-
sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ khoa học và công nghệ làm nảy sinh thêm những nhu cầu mới;
-
sự đòi hỏi và lựa chọn ngày càng khắt khe của khách hàng với các loại sản phẩm khác nhau;
-
khả năng thay thế nhau của các sản phẩm;
-
tình trạng cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt hơn…
Trong những điều kiện đó, các doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới và tự hoàn thiện mình trên tất cả phương diện: các nguồn lực sản xuất , quản lý sản xuất kinh doanh, sự ứng xử nhanh nhạy với những biến động của môi trường kinh doanh …
Nói chung một doanh nghiệp thường sản xuất kinh doanh một số sản phẩm nhất định. Chủng loại và số lượng sản phẩm ấy tạo thành danh mục sản phẩm của doanh nghiệp. Các sản phẩm trong danh mục có thể có quan hệ với nhau theo những kiểu khác nhau: quan hệ trong sản xuất, quan hệ trong tiêu dùng, các sản phẩm có thể thay thế nhau… chủng loại sản phẩm trong danh mục nhiều hay ít tuỳ thuộc vào chính sách sản phẩm mà doanh nghiệp theo đuổi ( chính sách chuyên môn hoá hay chính sách đa dạng hoá sản phẩm ). Trong quá trình phát triển doanh nghiệp, danh mục sản phẩm thường không cố định mà có sự thay đổi thích ứng với sự thay đổi của môi trường, nhu cầu của thị trường và điều kiện kinh doanh. Điều này thể hiện sự năng động và nhạy bén của doanh nghiệp với sự thay đổi của môi trường kinh doanh và nhu cầu khách hàng, tạo cho doanh nghiệp khả năng cạnh tranh cao trong việc thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Sự biến đổi danh mục sản phẩm của doanh nghiệp gắn liền với sự phát triển sản phẩm theo nhiều hướng khác nhau:
-
Hoàn thiện các sản phẩm hiện có;
-
Phát triển sản phẩm mới tương đối;
-
Phát triển sản phẩm mới tuyệt đối và loại bỏ các sản phẩm không sinh lời.
Phát triển danh mục sản phẩm theo chiều sâu và theo chiều rộng là hướng phát triển khá phổ biến. Sự phát triển sản phẩm theo chiều sâu thể hiện ở việc đa dạng hóa kiểu cách, mẫu mã, kích cỡ của một loại sản phẩm nhằm đáp ứng thị hiếu đa dạng các nhóm khách hàng khác nhau. Sự phát triển sản phẩm theo chiều rộng thể hiện ở việc có thêm một số loại sản phẩm nhằm đáp ứng đồng bộ một loại nhu cầu của khách hàng .
How to initiative an idea of new product?
Một công ty có thể đi theo ba con đường để phát triển sản phẩm mới :
-
Mua bằng sáng chế hoặc giấy phép sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp khác, từ viện nghiên cứu khoa học và công nghệ;
-
Tự tổ chức quá trình nghiên cứu thiết kế sản phẩm mới bằng nguồn lực của mình; và
-
Liên kết, phối hợp với các doanh nghiệp khác, với viện nghiên cứu để thực hiện quá trình này.
Hai phương pháp phát triển sản phẩm mới:
· Hoàn thiện sản phẩm hiện có.
Sự hoàn thiện sản phẩm này nhằm đáp ứng một cách tốt hơn đòi hỏi người tiêu dùng, khả năng cạnh tranh trên thị trường. Sự hoàn thiện sản phẩm hiện có lại được thực hiện với những mức độ khác nhau:
-
Hoàn thiện sản phẩm hiện có về hình thức: Giá trị sử dụng của sản phẩm không có gì thay đổi nhưng hình dáng bên ngoài của sản phẩm thay đổi như thay đổi nhãn mác, tên gọi sản phẩm để tạo nên sự hấp dẫn hơn với khách hàng, nhờ đó tăng và duy trì lượng bán.
-
Hoàn thiện sản phẩm về nội dung: Có sự thay đổi về nguyên liệu sử dụng để sản xuất sản phẩm để nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc hạ giá thành sản phẩm mà chất lượng sản phẩm không đổi. Ví dụ đó là sự thay đổi công nghệ sản phẩm.
-
Hoàn thiện sản phẩm cả về hình thức lẫn nội dung: Có cả sự thay đổi về hình dáng bên ngoài, bao bì và nhãn hiệu sản phẩm lẫn sự thay đổi về cấu trúc, vật liệu chế tạo sản phẩm.
· Phát triển sản phẩm mới hoàn toàn:
-
Khó khăn: chi phí cao, rủi ro lớn, cần có kế hoạch dài hạn, công nghệ khoa học tiên tiến và kết quả nghiên cứu thị trường đúng.
-
Lợi ích: Chúng cũng có thể đem tới một nguồn lợi lớn và quan trọng đối với một số doanh nghiệp nếu họ phải tránh bị phá sản hoặc bị đối thủ cạnh tranh mua lại.
Nếu các doanh nghiệp Việt Nam không đầu tư vào phát triển sản phẩm mới, rất dễ bị “quét sách” khỏi thị trường bởi các đối thủ cạnh tranh nước ngoài.
Các bước để đến thành công:
-
Phân đoạn khách hàng để tìm ra những cơ hội sản phẩm mới. Phần khách hàng này sẽ là những người có ý định mua hàng.
-
Tìm kiếm ý tường về sản phẩm mới bằng các cuộc điều tra phản ứng của khách hàng. “Cách dễ dàng nhất để điều tra thị hiếu của khách hàng là đề nghị họ xếp hạng năm đến mười sản phẩm họ yêu thích nhất và giải thích lí do lựa chọn những sản phẩm đó.
-
Cần tận dụng triệt để khả năng của các liên doanh, liên kết marketing chuyên nghiệp.
-
Bán hàng cho các kênh phân phối trước. “Giới thiệu một sản phẩm mới cần có đà. Nếu như thị trường coi sản phẩm mới đó là “tốt”, nó sẽ bán chạy.”
By
admin on March 15th, 2006
Posted in Bài Học Kinh Doanh | Comments Off
Bạn đang giữ một vị trí quản lý trong công ty? Có bao giờ bạn nhận thấy xung quanh mình có những người dù đang giữ những chức vụ có vẻ “không cao” nhưng ai cũng phải “ngước nhìn”. Tiếng nói của họ dường như rất có ảnh hưởng, rất có trọng lượng đối với mọi người, thậm chí cả với cấp trên…
Hình như cô thư ký của sếp trông có vẻ như vậy nhất ! Ngược lại, bạn đang là trưởng phòng, phó phòng vậy mà cấp trên không để tâm đến ý kiến của bạn. Thậm chí, có lúc bạn rơi vào tình trạng “trên bảo dưới không nghe”; ý kiến của bạn đôi khi không được thực hiện trôi chảy…
Tại sao vậy? Phải chăng bạn không có quyền lực trong công ty? Hay những người ở các vị trí “không cao” đó đã xây dựng quyền lực bằng một cách nào đó? Hay bạn không nhận biết quyền lực của mình và sử dụng nó một cách đúng đắn để quản lý và điều hành công việc…?
Trước hết, hãy xét quyền lực là gì và quyền lực từ đâu mà có?
Nói một cách khái quát, quyền lực là khả năng gây ảnh hưởng đến người khác, mà cụ thể là hành vi và thái độ của họ. Giới chuyên môn ngành quản lý đồng ý rằng trong một tổ chức, một doanh nghiệp quyền lực thường xuất phát từ yếu tố chức vụ và yếu tố cá nhân.
Yếu tố chức vụ thường là do doanh nghiệp và cấu trúc của doanh nghiệp quy định (được gọi là quyền hạn - quyền lực do vị trí trong một tổ chức mang lại). Cô thư ký X chuyên truyền “ý chỉ” của sếp sẽ làm cho những người khác trong công ty luôn lắng nghe cô ấy, mặc dù có khi chưa chắc “khẩu lệnh” của cô ấy là ý của sếp!!!
Yếu tố cá nhân là do những đặc điểm, những hoàn cảnh cá nhân của từng người quy định. Anh Y., tuy chỉ là một chuyên viên nhưng là người ăn nói có duyên và thu hút mọi người. Anh lịch thiệp, hòa nhã do vậy rất được mọi người quý mến. Công việc của phòng dù thuộc trách nhiệm của anh hay không đều được giải quyết một cách thấu đáo, trôi chảy. Vì vậy, mọi người trong phòng luôn lắng nghe, tôn trọng, làm theo ý kiến của anh ấy và dường như anh ấy có một sự ảnh hưởng đáng kể với mọi người, kể cả trưởng phòng và cấp trên.
Vậy làm thế nào để xác định đâu là quyền lực của mình và làm thế nào để xác lập quyền lực đó?
Hãy thử trả lời các câu hỏi trong trắc nghiệm nhỏ dưới đây.
a. Bạn có phải là mẫu người có năng lực chuyên môn cao và được đồng nghiệp hoặc cấp trên tham khảo ý kiến về mặt chuyên môn hay không?
b. Bạn có luôn nỗ lực cống hiến hết mình vì lợi ích của tổ chức hay không? Bạn có phải là kiểu người luôn xuất hiện vào những lúc khó khăn của doanh nghiệp ?
c. Giá trị cá nhân của bạn có phù hợp với giá trị của tổ chức không? (ví dụ bạn là người thích làm việc hướng đến lợi ích khách hàng và công ty của bạn cũng yêu cầu giá trị tương tự).
d. Bạn có sức lôi cuốn, hấp dẫn người khác không? (chẳng hạn như ăn nói có duyên, có tướng “nhà quan “…).
e. Vị trí của bạn có mang tính trung tâm trong quan hệ công việc không? (nghĩa là các vị trí khác muốn có thông tin liên quan đến công việc của họ đều phải thông qua bạn).
f. Bạn có được quyền ra quyết định liên quan đến chuyên môn và tài chính không?
g. Bạn có nằm trong danh sách những vị trí chủ chốt của doanh nghiệp ?
h. Vị trí của bạn có mức độ hiện diện cao (hay được xuất hiện trước những người có tầm ảnh hưởng lớn) không?
Nếu các câu trả lời là “có” cho các câu hỏi từ a đến d mà ít rơi vào các câu hỏi còn lại, quyền lực của bạn có nguồn gốc chủ yếu từ yếu tố cá nhân. Ngược lại, nếu các câu trả lời là “có”, cho các câu hỏi từ e đến h và ít rơi vào các câu hỏi từ a đến d, quyền lực của bạn phần lớn là do doanh nghiệp và vị trí của bạn trong doanh nghiệp mang lại.
Hiểu và xác định rõ nguồn gốc của quyền lực, sẽ dễ dàng suy ra cách để xác lập quyền lực của mình.
Nếu nguồn gốc quyền lực là do tổ chức trao cho và quy định thì không còn gì để bàn bạc nữa. Nhưng nếu nguồn gốc quyền lực là do cá nhân, bạn có nên buồn không và làm sao đây?
Bạn còn nhiều cơ hội để gầy dựng quyền lực đấy vì những yếu tố còn lại bạn có thể làm thay đổi. Chẳng hạn ở yếu tố e, bạn nên bắt đầu chú ý đến việc thu thập thông tin quan trọng càng nhiều càng tốt; yếu tố f, bạn hãy lựa cơ hội thuận tiện, thích hợp để yêu cầu cấp trên giao quyền quyết định hoặc tăng thêm quyền quyết định cho bạn; còn yếu tố h, bạn nên phấn đấu, xung phong đảm nhận những công việc khó khăn, những dự án mang tính mới mẻ, mạo hiểm để có được sự hiện diện cao và sau cùng là lọt vào danh sách các vị trí chủ chốt!
Nếu bạn đã có được quyền lực nhất định do vị trí mang lại thì xin chúc mừng. Nhưng vấn đề đặt ra là những người xung quanh hay cấp dưới sợ bạn hay nể trọng bạn? Bạn đã có điều kiện “CẦN” để làm nên quyền lực. Cần chú ý đầu tư thêm vào điều kiện “ĐỦ” là các yếu tố cá nhân như nâng cao năng lực chuyên môn, kinh nghiệm, thay đổi các giá trị bản thân cho phù hợp với giá trị doanh nghiệp hoặc rèn luyện sức thu hút mọi người, nhất là nếu bạn ở vị trí quản lý cao.
Tóm lại, để xây dựng, củng cố quyền lực cần phải xác định xem nguồn gốc quyền lực từ đâu đến và phát huy những thế mạnh, củng cố và xây dựng những điểm yếu hoặc chưa có để xác lập nó, nhất là khi bạn là người quản lý.
Hãy nhớ rằng là nhà quản lý, bạn không thể bỏ qua “tài sản quyền lực”, đó là một nguồn lực vô cùng quý giá. Hiệu quả công việc quản lý và việc sử dụng quyền lực có một mối liên hệ chặt chẽ. Hai yếu tố này có quan hệ như một đường parabol úp, có nghĩa là nếu quyền lực được sử dụng vừa đủ thì hiệu quả quản lý sẽ là ở đỉnh parabol (cao nhất), còn ngược lại nếu quyền lực được sử dụng quá ít hay quá nhiều đều mang lại hiệu quả thấp.
Theo Thời báo kinh tế Sài Gòn
By
admin on March 15th, 2006
Posted in Bài Học Kinh Doanh | Comments Off
Kiểm tra kiến thức bản thân
Theo các chuyên gia phân tích, trước khi khởi nghiệp, mỗi người cần biết được điểm mạnh, điểm yếu của mình là gì. Để làm được điều này, doanh nghiệp cần xem lại những gì mình biết và không biết về việc quản lý. Hãy kiểm lại những kinh nghiệm của mình và những người đi trước xem những gì là có lợi và điểm gì phải thay đổi. Điều này sẽ giúp bạn tìm ra những tính cách tốt và xấu từ những ông chủ cũ và tận dụng kiến thức đó cho mình.
Tìm một người cố vấn dày dạn kinh nghiệm
Bạn có thể tìm ngay trong chỗ làm của mình một người quản lý đã có kinh nghiệm, có uy tín, theo dõi học hỏi họ những thói quen, cách xử thế tốt rồi sau đó vận dụng. Bạn cũng có thể học kinh nghiệm từ những người quản lý giỏi ở nơi khác hoặc khi thân tình hơn có thể nhờ họ cố vấn cho mình.
Học lại - tự đào tạo lại
Đừng bao giờ coi việc học hành của mình đã đủ mà nên thường xuyên học lại. Hiện nay có nhiều tổ chức cung cấp các khóa phát triển kỹ năng quản lý và cũng có nhiều hội thảo xoay quanh vấn đề này, bạn đừng bỏ lỡ những cơ hội để có thể học thêm chúng.
Đọc sách
Ai cũng biết, sách chính là kho tàng vô tận kiến thức của cả thế giới, vì thế bạn cũng có thể tìm hiểu qua sách cách tổ chức quản lý, kỹ năng điều hành… Tất nhiên ta không nên áp dụng một cách máy móc mà cần biết sử dụng nó trong từng tình huống cụ thể, công việc cụ thể hay quá trình cụ thể.
Học cách lắng nghe và hiểu người khác
Bí quyết để thành công trong vai trò lãnh đạo là biết cách giao tiếp và đánh giá chính xác nhân viên của mình. Đó là phần thách thức nhất trong việc quản lý của nhiều nhà chuyên nghiệp khi ở trong tình thế chuyển từ một người bạn sang vị trí điều khiển. Khi thiết lập mối quan hệ với một tập thể mới, điều quan trọng là phải thẳng thắn và trung thực. Ngoài ra, đánh giá thực tế, khả năng làm việc của nhân viên và nói chuyện với họ về chất lượng công việc cũng cần thiết và phải làm thường xuyên, song tránh nặng nề, quy chụp mặc dù bạn vẫn phải luôn yêu cầu họ làm tốt.
Đặt nhân viên của mình lên trên hết
Một người lãnh đạo tốt là người biết cách đào tạo, hỗ trợ và khích lệ nhân viên mình. Nếu bạn không dành thời gian hỗ trợ nhân viên và bảo đảm đáp ứng nhu cầu hợp lý của họ thì họ khó có thể ủng hộ bạn làm tốt mọi việc.
Rich Moore, một chuyên gia cao cấp tại Hiệp hội Quản lý AAMI ở Mỹ, đã nói: “Nhà quản lý hiệu quả nhất là người biết được tài năng của từng đối tượng và dành thời gian để tìm hiểu nhân viên của mình”.
Theo Thế giới phụ nữ
By
admin on March 15th, 2006
Posted in Bài Học Kinh Doanh | Comments Off
Trên thế giới mỗi ngày có hàng trăm nghìn doanh nghiệp ra đời và cũng với một số lượng doanh nghiệp như vậy thất thế, phá sản. Sự quyết liệt của thương trường thực sự là một thách thức lớn đối với các doanh nhân. Doanh nhân là người chủ doanh nghiệp nhạy cảm với tình thế, nắm vững những nguyên lý cơ bản trong cạnh tranh là yếu tố quyết định thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Vậy làm thế nào để Doanh nghiệp luôn đứng vững trên thương trường với tư thế tự chủ?
Ai đó đã nói “Cùng ngành nghề chứ không cùng lợi nhuận, cạnh tranh là sự tất yếu của thương trường. Cạnh tranh là sự so sánh, đối chứng sức mạnh cơ bản giữa các doanh nghiệp, những đe doạ thách thức hoặc cơ hội của doanh nghiệp, chủ yếu có được từ quá trình đối kháng của sức mạnh này. Cạnh tranh trên nhiều phương diện: Thương hiệu - Chất lượng - Mẫu mã - Giá cả… Chúng ta đã và đang tiến tới xây dựng một thương trường lành mạnh, một môi trường kinh doanh có văn hoá - sự phát triển vững bền cho doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế đất nước nói chung…
Xin trân trọng giới thiệu tới các doanh nghiệp, doanh nhân mười phương kế hữu hiệu trong cạnh tranh giành thắng lợi.
1. Xem xét đánh giá tình hình, chiến thắng bằng “thay đổi”
Đây là một nguyên tắc được dùng phổ biến nhất trong đấu tranh quân sự và chính trị, và nó cũng thích hợp trong cạnh tranh kinh tế thời hiện đại vì doanh nghiệp là một hệ thống lớn kiểu mở cửa, luôn muốn trao đổi thông tin và trao đổi năng lượng với môi trường toàn xã hội.
Bảo thủ là điều tối kị trong cạnh tranh, phải xem xét đánh giá tình hình, biết trước, làm trước là “pháp bảo” của thắng lợi. Các doanh nghiệp phải biết nhìn xa trông rộng và có sáng kiến để đối phó những thay đổi, những sự cố đột biến, tránh tình trạng không kịp đề phòng, không kịp trở tay.
2. Xuất bất kỳ (bất ngờ) đánh vào chỗ không chuẩn bị
Trên thương trường, hạt nhân của “bất ngờ, đánh vào chỗ không chuẩn bị” được thể hiện ở chữ “kỳ” Mưu lược “xuất kỳ bất ý” mà các ông chủ hiện đại thường dùng đều dốc tâm sức vào chữ “kỳ”. Nếu muốn thành công đòi hỏi bạn phải có tư tưởng kinh doanh xuất kỳ (lạ thường), đưa ra sản phẩm lạ thường, xảo thuật kinh doanh lạ thường, phương thức tiêu thụ và thái độ phục vụ khác lạ.
3. Nhanh chóng giành thắng lợi.
“Thời gian là vàng bạc” thực sự là kinh nghiệm cạnh tranh hiện đại bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị của đồng tiền, đến chiếm dụng và tốc độ quay vòng của đồng tiền, đến việc năm bắt cơ hội. Với một doanh nghiệp mà nói, cơ hội thường là điểm chuyển hướng của thăng tiến, là nơi mở ra thành công, chỉ có nắm chắc được thời cơ thì chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp mới có thể mang lại hiệu quả. Người cạnh tranh hiện đại phải rất coi trọng “cơ hội” phải tranh thủ thời gian từng giây, từng phút, nếu có cơ hội phải quyết đoán, dứt khoát bắt tay vào làm ngay.
4. Lùi trước tiến sau.
Binh pháp có phép dùng binh: “Đánh đòn phủ đầu, lùi trước tiến sau”. Người hành động sau trong cạnh tranh cũng có thể thắng được người khác - trên tất cả các mặt đều tỏ ra ưu thế hơn người hành động trước, họ có thể tiếp thu bài học thất bại của người đi trước để giành được hiệu quả kinh tế tương đối tốt. Nhưng người làm sau phải nhằm đúng thời cơ, hành động dứt khoát, quyết đoán, quyết không thể hành động mù quáng để dẫn đến thất bại quá sớm, cũng không nên do dự chần chừ mà để lỡ thời cơ
5. Tập trung ưu thế, đột phá trọng điểm.
Cạnh tranh kinh tế thực chất là cuộc cạnh tranh về nhân lực, vật lực và tài lực. Nhưng bất kỳ cá nhân, tập thể nào cũng đều bị hạn chế trong những nguồn này. Trong tình hình như vậy, phải sử dụng nguồn vốn như thế nào để có hiệu quả nhất - Đây là một trong những điểm mấu chốt để cạnh tranh thắng lợi. Người thành công thật sự thì quy mô sự nghiệp của họ không thể trải ra quá rộng mà chỉ nên hành động trong phạm vi mình có thể nắm chắc được. Như vậy bảo đảm tập trung ưu thế, đột phá trọng điểm, thúc đẩy toàn cục.
6. Hướng tới cái lợi, tránh cái hại, phát huy sở trường, tránh sở đoản.
Đây là một trong những nguyên tắc bắt buộc người quyết sách phải tuân theo khi lựa chọn phương pháp tối ưu. Muốn trong một thời gian ngắn chiếm được ưu thế canh tranh với chi phí thấp nhất, con đường duy nhất có thể lựa chọn là hướng tới cái lợi, tránh cái hại, phát huy sở trường, tránh sở đoản. Trong cạnh tranh kinh tế, bất kì một doanh nghiệp nào cho dù thực lực có mạnh đến đâu đều có điểm yếu và điểm mạnh của mình, đều không thể chiếm lĩnh toàn bộ thị trường. Trường hợp đứng trước lợi hại đan xen phải tuân thủ theo nguyên tắc: Hai cái lợi lấy cái lợi lớn, hai cái hại lấy cái hại nhỏ “Lấy cái mạnh của mình đánh lại cái yếu của đối phương” đồng thời đánh vào khe hở của thị trường.
7. Vu hồi giành thắng lợi.
Trong đối kháng và canh tranh của thị trường chúng ta không thể mãi mãi chỉ đi theo con
đường thẳng, trên vấn đề “thẳng” và “cong” phải cố gắng nhìn xa trông rộng, dự báo tương lai một cách chính xác, dũng cảm đối mặt với khó khăn, tỉnh táo nhìn nhận thành tích. Vừa làm hảo hán trong hoàn cảnh thuận lợi, không quá đắm mình trong tình thế có lợi, lại vừa làm anh hùng trong hoàn cảnh khó khăn, không hề dao động trước nguy cơ áp lực.
Kế Vu hồi được ứng dụng trong thời gian, là lấy kéo dài thay thế tốc thắng (thắng nhanh). Trong tình huống thời cơ và điều kiện chín muồi phải thần tốc, quyết chiến quyết thắng. Ngược lại khi điều kiện chưa đầy đủ, thời cơ chưa chín muồi, phải tính kế lâu dài, bảo toàn thực lực và lực lượng, đợi thời cơ chiến đấu lâu dài.
8. Tích tiểu thành đại, tích nhỏ để giành thắng lợi
Để thực hiện mưu lược này nhà doanh nghiệp phải mang trong trái tim chí hướng lớn, phải tự tin vào tương lai ở phía trước; nếu thấy tự hổ thẹn, nhát gan lùi bước, không có chí hướng lớn thì khó có thể bước qua cửa ải “long môn”. Thực hiện mưu lược “tích tiểu thành đại” còn phải có ý chí kiên trinh bất khuất và tinh thần không ngại khó khăn gian khổ. “
9. Mưu cầu thắng lợi trong lùi bước.
Những người thành công đều biết vận dụng thành thạo chiến thuật tiến thoái hợp lý hơn nữa đây còn là “pháp bảo”của thành công. Trong tình thế ở vào bất lợi, có thể đầu hàng, có thể giảng hòa cũng có thể rút lui. Trong ba điều này đầu hàng là thất bại hoàn toàn, giảng hoà là một nửa thất bại, rút lui có thể chuyển bại thành thắng.
Trong cạnh tranh kinh tế, lùi bước cũng là một khái niệm rất có giá trị. Có thể dự báo xem xét trước được hay không những thất bại hoặc tình hình xấu có thể xẩy ra để có được kế hoạch và thu xếp chu đáo.
10. Lấy rẻ để giành thắng lợi.
Vì mục đích phát triển lâu dài, người thành công thường phải hi sinh một vài lợi ích nhỏ trước mắt, thậm chí bỏ ra một số vốn để mở rộng việc kinh doanh buôn bán từ nay về sau và cũng từ đó để gây dựng lòng tin. Người kinh doanh của doanh nghiệp phải thông qua hạch toán tỉ mỉ điều tra và dự tính chu đáo thị trường, mục tiêu “thả dây dài để câu cá lớn”. Vì vậy có thể chấp nhận buôn bán lỗ vốn cũng được, chỉ cần đầu tư trên thị trường có tiềm lực phát triển thì cuối cùng vẫn giành được thắng lợi lớn.
Theo Tạp chí Văn hoá doanh nhân